Tiểu Đường Tăng đất Việt khát khao vân du Tây Thiên học đạo

Thứ sáu - 16/08/2013 09:13
Vào những năm 30 của thế kỷ trước, tại Bến Cảng Nhà Rồng, thiền sư Minh Tịnh (tức Hòa thượng Nhẫn Tế, trụ trì đời thứ nhất Chùa Tây Tạng) đã noi theo người xưa xuất dương, vân du sang đất Phật học đạo.
Tiểu Đường Tăng đất Việt khát khao vân du Tây Thiên học đạo
Những tháng ngày trong hành trình vạn lý gian nan của vị thiền sư không chỉ chứng minh tinh thần quả cảm hiếm gặp, mà còn thể hiện nghị lực phi thường, lòng yêu nước, yêu đạo sâu sắc của con người Việt Nam.

Hòa thượng Nhẫn Tế phát xuất từ một trí thức thời loạn, dù được giữ chức vụ trong ngành y nhưng sự huyền bí của Phật giáo đã hấp dẫn ông. Từ chỗ nghiên cứu, say mê văn hóa Phật giáo, ông tin theo và quyết xuống tóc quy y. Những năm 1935, khi nước nhà đang trong đà chấn hưng Phật giáo, với quan niệm: "Muốn chấn hưng Phật giáo phải biết cội nguồn của Phật pháp", thiền sư mạnh dạn cố công học tập, tích lũy vật dụng thực hiện cuộc độc hành vạn lý vân du sang đất Phật học đạo.

 

 

 

Nhắc đến Pháp danh Minh Tịnh, không chỉ những Phật tử mà người đời đều ít nhiều biết đến. Thiền sư Minh Tịnh là Trụ trì đời thứ nhất của ngôi chùa nổi tiếng sở hữu tượng Bồ Đề Đạt Ma bằng tóc lớn nhất Việt Nam. Ông còn được lịch sử ghi nhận có công lao to lớn với nền cách mạng giải phóng dân tộc. Những sự tích đã đi vào huyền thoại của ông dù ở khía cạnh Phật giáo hay cách mạng đều được người dân đất Bình Dương ngưỡng vọng.

 

Theo những tài liệu còn ghi lại tại chùa Tây Tạng (TP. Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương), tục danh của thiền sư Minh Tịnh là Nguyễn Tấn Tạo (Mười Tạo). Ông sinh năm 1888 tại thôn An Thạnh, tỉnh Thủ Dầu Một (cũ). Sinh thời, ông vốn là một bậc trí thức. Thời Pháp thuộc, ông được biết đến như một cán bộ công chức ngành y tận tâm. Là một trí thức, thường xuyên tiếp xúc sách vở, ngay từ thuở thiếu thời, Nguyễn Tấn Tạo đã có sự đam mê kỳ lạ với văn hóa Đông và Tây học. Thế nên, mới 16 tuổi, ông đã được giới trí thức Tây học công nhận là một trong những người có kiến thức uyên thâm, am hiểu sâu sắc về văn hóa Đông và Tây học.

 

Tuy nhiên, ít ai ngờ, trong khi giới trí thức cùng thời say mê nghiên cứu lịch sử, nghệ thuật, văn học, Nguyễn Tấn Tạo lại gây bất ngờ bằng việc chuyên tâm nghiên cứu Phật giáo. Những năm tháng tìm hiểu Phật giáo đã khiến ông say mê, trọn đời đặt niềm tin vào tôn giáo này. Cuối cùng, ông xuống tóc quy y khi còn khá trẻ. Sau khi xuất gia, con đường tu đạo của thiền sư cũng gắn liền với vận mệnh của đất nước. Ngoài một vị trụ trì luôn hướng tâm, đạo về vận mệnh của đất nước trong ký ức của các tăng ni, phật tử chùa Tây Tạng, thiền sư Minh Tịnh còn được lịch sử Bình Dương ghi nhận như một người có công lớn.

 

Ghi nhận những đóng góp của thiền sư trong công cuộc kháng chiến cứu nước, cuốn Lịch sử Bình Dương viết: Thiền sư Minh Tịnh là người yêu nước và có nhiều cống hiến cho cách mạng. Vào năm 1945, ông được cử làm Chủ tịch Hội Phật giáo Cứu quốc tỉnh Thủ Dầu Một (cũ). Tháng 6/1946, ông trở thành thành viên Mặt trận Việt Minh tỉnh Thủ Dầu Một (cũ) tại khu Thuận An Hòa. Với cương vị trụ trì, có kiến thức uyên thâm về Phật pháp, thiền sư đem những ảnh hưởng của mình để kêu gọi giới Phật giáo dồn hết sức tham gia vào kháng chiến.

 

Đến hôm nay, câu nói của vị trụ trì: "Khi nào còn chiến tranh thì một viên ngói, một viên gạch cũng không được xây chùa..." vẫn được nhiều tăng ni, phật tử nhớ đến. Hơn thế, ông còn là cha đỡ đầu của đồng chí Nguyễn Văn Thi, Liên Trung đoàn trưởng, bản doanh đóng tại xã Bình Chuẩn, Lái Thiêu (tỉnh Thủ Dầu Một cũ). Năm 1950, ông được cử làm cố vấn cho tỉnh Thủ Dầu Một (cũ). Tại chùa Tây Tạng, vận động, kêu gọi tăng sĩ, Phật tử của chùa trực tiếp tham gia kháng chiến như: Nguyễn Văn Lạc, pháp danh Pháp Cự, hy sinh năm 1949; Nguyễn Văn Xinh, pháp danh Thiện Hiệu, hy sinh năm 1948; Lâm Văn Thảo, pháp danh Thiện Đắc, hy sinh năm 1945...

 

 

 

 

Vào những năm 1930, khi đất nước chuyển mình chấn hưng nền Phật giáo cần có một người thật sự uyên thâm Phật pháp, thiền sư trở thành người tiên phong dám nghĩ và ấp ủ hành trình Tây du đến đất Phật. Trụ trì chùa Tây Tạng nhận định: "Muốn chấn hưng Phật giáo phải biết cội nguồn của Phật pháp". Với quan niệm đó, từ rất lâu, ông khát khao tự thân tìm sang đất Phật. Tuy nhiên, đường sang Tây Trúc xa vạn dặm, ngăn sông cách biển, văn hóa, ngôn ngữ cũng khác nhau. Thế nên dù bối cảnh đất nước thúc đẩy, thiền sư Minh Tịnh vẫn chưa thể tiến hành hành trình bấy lâu mơ ước mà chỉ dám ấp ủ, âm thầm chuẩn bị cho ngày ra đi.

 

Để chuẩn bị cho ngày lên đường, theo một số tài liệu còn lưu giữ, ngoài việc đảm bảo sức khỏe tốt, thiền sư Minh Tịnh cố gắng học tiếng Anh, tiếng Ấn trong thời gian ngắn. Hơn thế, vị trụ trì cũng cần đảm bảo một số tiền kha khá để đủ làm tiền lộ phí. Vốn xuất thân là một trí thức tây học, việc học ngoại ngữ của thiền sư không mấy khó khăn. Hơn thế, vốn kiến thức về văn hóa phương Đông, về Phật giáo từ những nghiên cứu thời còn trẻ, cho phép thiền sư tự tin hơn về hành trình gian nan phía trước. Cuối cùng, sau những nỗ lực không mệt mỏi, thiền sư cũng chọn được ngày xuất dương, vân du đất Phật.

 

Ngay sau khi chọn ngày, thiền sư không chần chừ, nhanh chóng viết đơn xin xuất dương và đệ trình lên các cấp chính quyền nguyện vọng được ra nước ngoài. Tại đây, sau khi nghe nguyện vọng đáng trân trọng của bậc thiền sư, chính quyền lúc bấy giờ không những không gây khó dễ mà còn tận tình hướng dẫn thiền sư một cách chi tiết. Theo đó, để được xuất dương, thiền sư Minh Tịnh phải xin giấy xuất dương tại chủ tỉnh sau đó phải lên Sài Gòn vào sở Thông hành để xin được cấp giấy thông hành.

 

Ông đệ trình giấy xin xuất dương từ ngày 1/4/1935 nhưng mãi đến ngày 16/4/1935 mới hoàn tất. Giai đoạn này việc xuất dương ra nước ngoài hầu như được thực hiện bằng đường biển. Để sang Ấn Độ, thiền sư Minh Tịnh đến bến Cảng Nhà Rồng tìm mua vé tàu. Tại đây, ông được tin đến ngày 17/4 mới có chuyến tàu từ Việt Nam đi Singapo, ngang qua Ấn Độ và cập cảng Madras. Thời gian chờ khá dài đủ để chư tăng, phật tử bày tỏ sự lưu luyến với vị trụ trì đáng kính.

 

Đêm 16/4/1935, sau khi biết việc thiền sư Minh Tịnh đã lấy giấy thông hành và đang chu tất cho hành trình vạn lý vân du nơi đất Phật, rất nhiều tăng ni, phật tử của chùa đến tiễn biệt. Trước hành trình vạn dặm, muôn trùng gian khó, không thể hẹn ngày về, nhiều tăng, ni để lộ nét mặt sầu bi, lo lắng. Thiền sư an ủi: "Sự du lịch đất Phật đây chưa phải là chuyện hằng hữu. Nước nhà, mới một mình bần tăng là Thích tử Việt Nam, ngày nay đi lễ bái Thế tôn thánh địa, nơi Trung thiên trước quốc. Cổ kim mới một lần thứ nhất có cái hạnh phúc này, sao lại không vui". Thiền sư mặc một chiếc áo tràng tiến về phía bến Nhà Rồng. Từ đây, hành trình không tưởng của một vị thiền sư Việt Nam vân du Ấn Độ, chinh phục Hymalaya, đến Nêpan, vào vương quốc Tây Tạng với bao khổ cực bắt đầu.

 

Chinh phục Tây Tạng ở tuổi 47

Thiền sư Minh Tịnh "đam mê" Phật giáo từ năm 16 tuổi, sau đó xuất gia với Hòa thượng Ấn Thành - Từ Thiện, chùa Thiên Tôn với pháp danh Chơn Phổ - Nhẫn Tế. Sở dĩ thiền sư có thêm pháp danh Minh Tịnh là do cầu pháp học đạo với tổ Huệ Đăng và thụ giới với Hòa thượng Ngộ Định - Từ Phong. Thiền sư Minh Tịnh chinh phục dãy Hymalaya khi bước sang tuổi 47, độ tuổi không còn trẻ khỏe để mạo hiểm và đương đầu với thử thách khắc nghiệt của khí hậu, địa hình. Vậy mà, ông đã vượt biển, vượt núi, trải qua cái nắng khủng khiếp, chìm vào sức lạnh băng tuyết lâu năm, bằng niềm tin Phật giáo vô biên.

 

 

 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Thành viên
Lịch
Thống kê truy cập
  • Đang truy cập7
  • Hôm nay467
  • Tháng hiện tại40,693
  • Tổng lượt truy cập3,673,460
Like Facebook
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây